Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, tăng huyết áp (THA) ảnh hưởng đến sức khỏe của hơn 1 tỷ người trên toàn thế giới và là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất liên quan đến bệnh mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu não và suy thận mạn tính. Với bệnh nhân THA, làm thế nào để kiểm soát được huyết áp mục tiêu, giảm biến chứng của bệnh? GS.TS. Nguyễn Lân Việt, Viện trưởng Viện Tim mạch Quốc gia, Chủ nhiệm Dự án Phòng chống bệnh THA đã có cuộc trao đổi với phóng viên (PV) báo SK&ĐS xung quanh vấn đề này.
Tác giả: Thu Hương (thực hiện)
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 117 ngày 24/7/2010
Theo kết quả nghiên cứu mới nhất được đăng tải tại Tạp chí của Hội Thận học Mỹ (Journal of the American Society Nephrology) cho biết, những người ăn thường xuyên thức ăn có chứa hàm lượng đường fructose cao có nguy cơ gây bệnh huyết áp cao.
Tác giả: Dương Hồng Quân (Theo Medical Research News, 7/2010)
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 113 ngày 17/7/2010
Hạt muồng hay còn gọi là hạt muồng ngủ, theo tên thuốc Đông y là thảo quyết minh, hay quyết minh tử. Thảo quyết minh được dùng để trị các chứng bệnh liên quan đến một số chức năng của tạng can (gan). Theo YHCT, can khai khiếu ra mắt, can chủ về sơ tiết (mật). Do vậy mà vị thuốc này được Đông y trị các chứng về mắt như đau mắt, mờ mắt... táo bón do thiếu dịch mật.
Tác giả: GS.TS. Phạm Xuân Sinh
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 106 ngày 4/7/2010
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh rất thường gặp và là vấn đề xã hội. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hiện nay, THA được xem là 1 trong 10 bệnh nguy hiểm ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ nhân loại. Việc điều trị không đúng bệnh THA sẽ gây ra nhiều tai biến...
Tác giả: Bs. Trần Tất đạt
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 97 ngày 19/6/2010
Giảm chất béo của cơ thể sẽ làm cải thiện đường huyết của bạn và giảm các thuốc (insulin hoặc thuốc viên). Giảm cân có thể giúp điều trị các vấn đề liên quan khác như là tăng mỡ máu, tăng huyết áp, đau lưng và đau khớp. Không nên giảm hơn 1kg mỗi tuần; 1-3kg mỗi tháng là tỷ lệ hợp lý.
Tác giả: Dự án phòng chống bệnh đái tháo đường - Bệnh viện Nội tiết TW
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 96 ngày 17/6/2010
Rất nhiều bệnh nhân mắc một số bệnh lý của gân, cơ, xương khớp nhưng đã không được chẩn đoán và điều trị đúng nên bệnh dai dẳng và có nhiều biến chứng đáng tiếc xảy ra như tình trạng lạm dụng corticoid gây biến chứng tăng huyết áp, đái tháo đường, loãng xương, phụ thuộc corticoid...
Tác giả: TS. Đào Hùng Hạnh
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 93 ngày 12/6/2010
Tăng huyết áp có thể do các nguyên nhân: do thận như viêm cầu thận cấp tính, ứ nước bể thận, u tủy xương thận, hẹp động mạch thận; do nguyên nhân khác như: hẹp eo động mạch chủ, nhiễm độc thai nghén; do nguyên nhân thần kinh, cường tuyến giáp trạng, hở van động mạch chủ, hoặc có thể là tăng huyết áp không rõ nguyên nhân. Việc điều trị tùy thuộc nguyên nhân để dùng thuốc thích hợp. Trong y học cổ truyền cũng có nhiều loại thuốc điều trị hiệu quả.
Tác giả: GS. Đoàn Thị Nhu
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 86 ngày 30/5/2010
Tôi năm nay 56 tuổi, mới nghỉ hưu, gần đây tôi hay bị chóng mặt, đau đầu. Tôi đi khám thì bị tăng huyết áp (154/100mmHg) và chỉ số cholesterol là 6,2mmol/l. Tôi nghe nói bệnh của tôi rất dễ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm. Xin hỏi bác sĩ đó là những biến chứng gì?
Đỗ Thị Mai Hoa (Thanh Hóa)
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Quang Tuấn
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 83 ngày 25/5/2010
Thận là cơ quan đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động sống của con người. Thận gồm có hai quả hình dáng giống như hạt đậu, to bằng nắm tay, nằm ở phía lưng. Cứ khoảng 30 phút một lần, toàn bộ lượng máu của cơ thể lại được lọc hết qua thận để loại bỏ các chất thải độc hại đối với cơ thể, giữ lại các dưỡng chất cần thiết. Thận duy trì sự cân bằng của nước, đảm bảo mức độ ổn định của các khoáng chất cần thiết như canxi, sản xuất hormon như erythropoietin, enzym và vitamin, giúp điều hòa huyết áp và số lượng hồng cầu...
Tác giả: BS. Hà Thanh Thủy
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 82 ngày 23/5/2010
+ ACCUPRIL:
Chỉ định trong điều trị cao huyết áp vô căn
+ ADALAT:
Dự phòng cơn đau thắt ngực, cao huyết áp.
+ AMLOR:
Điều trị khởi đầu trong cao huyết áp và có thể dùng như thuốc duy nhất để kiểm soát huyết áp cho đa số bệnh nhân.
+ APO-AMILZIDE:
Điều trị xơ gan cổ trướng và phù nề, tim, cao huyết áp.
+ APROVEL 75 mg - 150 mg - 300 mg:
Điều trị cao huyết áp nguyên phát
+ CARDURAN:
Chỉ định trong điều trị cao huyết áp
+ COVERSYL:
Điều trị: cao huyết áp, suy tim sung huyết.
+ ECAZIDE:
Điều trị cao huyết áp.
+ HERBESSER:
Tăng huyết áp vô căn. Cơn đau thắt ngực, đau thắt ngực biến thể.
+ HYPERIUM:
Tăng huyết áp.
+ HYTROL:
Hytrol, một chất ức chế Enzym chuyển loại mới, điều trị hiệu nghiệm trên diện rộng các tình trạng cao huyết áp thường gặp và suy tim xung huyết mãn tính.
+ ISOBAR:
Huyết áp cao.
+ MADIPLOT:
Cao huyết áp.
+ MONOTRATE:
Ngăn ngừa xuất hiện giai đoạn thiếu máu cục bộ trong cơn đau thắt ngực.
+ NURIL 5 mg - 10 mg:
Cao huyết áp nhẹ và vừa. Phụ trị trong suy tim, ở bệnh nhân không đáp ứng đầy đủ với thuốc lợi tiểu.
+ PANANGIN:
Tăng dùng các ion thiếu, mất chất điện giải. Phụ trị đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim cấp, loạn nhịp tim, cao huyết áp.
+ SECTRAL 200:
Điều trị cao huyết áp
+ TANATRIL:
Tăng huyết áp. Tăng huyết áp do nhu mô thận.
+ VEROSPIRON:
Thuốc lợi tiểu - Điều trị ngắn hạn, điều trị trước phẫu thuật trong bệnh cường aldosterone tiên phát.