Trẻ sơ sinh có mẹ thường xuyên hút thuốc thời kỳ mang thai có nguy cơ mắc các vấn đề về huyết áp trong những năm đầu đời, một nghiên cứu mới công bố.
Tác giả: H.Minh (Theo Escience, 1/2010)
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 22 ngày 7/2/2010
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh phổ biến nhất trong các bệnh tim mạch. Trước đây bệnh thường gặp ở người cao tuổi nhưng hiện nay do đời sống vật chất ngày càng được cải thiện, cộng với những căng thẳng khiến nhiều người trẻ tuổi cũng mắc bệnh. Nguyên nhân gây bệnh khá phức tạp, do nhiều yếu tố như xơ vữa động mạch, bệnh ở thận hoặc trong giai đoạn tiền mãn kinh... THA nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm cho người bệnh như tai biến mạch máu não, suy tim, suy thận... Gọi là THA khi huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) lớn hơn 140mmHg và huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu) lớn hơn 90mmHg.
Tác giả: Lương y Đình Thuấn
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 20 ngày 4/2/2010
Thói quen ăn uống, sinh hoạt là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới huyết áp, đặc biệt là người tăng huyết áp do di truyền thì chế độ ăn uống, sinh hoạt càng ảnh hưởng lớn. Dưới đây là những yếu tố trong cuộc sống liên quan tới bệnh tật, đặc biệt là bệnh tăng huyết áp - được mệnh danh là kẻ giết người thầm lặng.
Tác giả: BS. Nguyễn Thị Thu Hường
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 10 ngày 17/1/2010
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khi chỉ số huyết áp thấp hơn hoặc bằng 120/80mmHg được xem là huyết áp tối ưu không gây hại cho sức khoẻ; trong đó 120 gọi là số huyết áp tối đa (biểu hiện sức bóp của tim), 80 là số huyết áp tối thiểu (biểu hiện sức cản của thành mạch máu). Chỉ khi nào huyết áp tối đa bằng hoặc lớn hơn 140mmHg hoặc số huyết áp tối thiểu bằng hoặc lớn hơn 90mmHg thì được coi là tăng huyết áp.
Tác giả: BS. Nguyễn Minh Hồng
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 6 ngày 10/1/2010
Tại sao lại nói \"tăng huyết áp là kẻ giết người thầm lặng\"?
Thứ nhất là, tăng huyết áp (THA) là một vấn đề rất thường gặp trong cộng đồng. Tỷ lệ người mắc THA ngày càng tăng và tuổi bị mắc mới cũng ngày một trẻ. Vào năm 2000, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), toàn thế giới có tới 972 triệu người bị THA và con số này được ước tính là khoảng 1,56 tỷ người vào năm 2025. Các yếu tố nguy cơ của lối sống như lười vận động, ăn không hợp lí với chế độ ăn quá nhiều chất béo, ăn mặn, hút thuốc lá... là những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng gánh nặng này. Một vấn đề khá quan trọng nữa là tỷ lệ người mắc THA ngày một tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển (châu Á, châu Phi). Theo thống kê tại Hoa Kỳ năm 2006, có khoảng 74,5 triệu người Mỹ bị THA; cứ 3 người lớn có 1 người bị THA. Ngay tại Việt Nam, thống kê mới nhất năm 2007 cho thấy tỷ lệ THA ở người lớn là 27,4% (!).
Tác giả: Dự án quốc gia phòng chống bệnh tăng huyết áp - Viện tim mạch Việt Nam TS.BS. Phạm Mạnh Hùng (Tổng thư ký Hội Tim mạch học Việt Nam)
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 209 ngày 31/12/2009
Hen phế quản và tăng huyết áp (THA) là hai bệnh khá phổ biến cả ở nước ta và trên thế giới. Vì vậy rất khó tránh khỏi việc mắc đồng thời hai bệnh trên cùng một người bệnh. Việc sử dụng thuốc cho người mắc hen có THA sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với dùng thuốc cho một bệnh riêng lẻ. Vậy thuốc điều trị hen phế quản tác dụng tới huyết áp như thế nào?
Tác giả: BS. Trần Tất Đạt
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 208 ngày 29/12/2009
Những bệnh lý tại võng mạc do các căn nguyên khác nhau như biến chứng đái tháo đường, tăng huyết áp, trẻ đẻ nhẹ cân hay những lý do gây rách hoặc bong võng mạc gây hiện tượng mù lòa khá phổ biến.
Tác giả: Hoàng Khánh (Theo NHK, 12/2009)
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 208 ngày 29/12/2009
Tăng huyết áp (THA) dẫn đến các biến chứng ở não, tim và thận thông qua 2 cơ chế, cả hai cơ chế này đều do ảnh hưởng của tăng áp lực trong động mạch. Thứ nhất là do ảnh hưởng của áp lực máu cao trên cấu trúc và chức năng của tim và mạch máu; thứ hai là do sự tiến triển của vữa xơ động mạch. Cơ chế đầu tiên là do hậu quả trực tiếp của huyết áp (HA), trong khi cơ chế thứ hai là do sự tương tác với các yếu tố nguy cơ khác để gây ra các bệnh tim mạch, quan trọng nhất là tăng cholesterol máu. Do vậy, đột qụy liên quan chặt chẽ với các ảnh hưởng trực tiếp của huyết áp, trong khi bệnh động mạch vành (ĐMV) liên quan với vữa xơ động mạch. Sự liên quan giữa huyết áp với biến cố đột qụy chặt chẽ hơn là với biến cố ĐMV.
Tác giả: Dự án quốc gia phòng chống bệnh tăng huyết áp - Viện Tim mạch Việt Nam PGS.TS. Nguyễn Quang Tuấn
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 208 ngày 29/12/2009
Đông y gọi huyết áp thấp là chứng huyễn vựng (huyễn là hoa mắt, vựng là chóng mặt). Và cho rằng chứng huyễn vựng sảy ra là do khí huyết hư chiếm đa phần nguyên nhân bệnh sinh. Do huyết hư khiến sự nuôi dưỡng tại não bị thiếu hụt mà sinh ra hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn hay váng đầu làm cho sắc mặt nhợt nhạt, tay chân yếu, run, mạch vô lực...
Tác giả: BS. Hoàng Tuấn Long
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 208 ngày 29/12/2009
+ ACCUPRIL:
Chỉ định trong điều trị cao huyết áp vô căn
+ ADALAT:
Dự phòng cơn đau thắt ngực, cao huyết áp.
+ AMLOR:
Điều trị khởi đầu trong cao huyết áp và có thể dùng như thuốc duy nhất để kiểm soát huyết áp cho đa số bệnh nhân.
+ APO-AMILZIDE:
Điều trị xơ gan cổ trướng và phù nề, tim, cao huyết áp.
+ APROVEL 75 mg - 150 mg - 300 mg:
Điều trị cao huyết áp nguyên phát
+ CARDURAN:
Chỉ định trong điều trị cao huyết áp
+ COVERSYL:
Điều trị: cao huyết áp, suy tim sung huyết.
+ ECAZIDE:
Điều trị cao huyết áp.
+ HERBESSER:
Tăng huyết áp vô căn. Cơn đau thắt ngực, đau thắt ngực biến thể.
+ HYPERIUM:
Tăng huyết áp.
+ HYTROL:
Hytrol, một chất ức chế Enzym chuyển loại mới, điều trị hiệu nghiệm trên diện rộng các tình trạng cao huyết áp thường gặp và suy tim xung huyết mãn tính.
+ ISOBAR:
Huyết áp cao.
+ MADIPLOT:
Cao huyết áp.
+ MONOTRATE:
Ngăn ngừa xuất hiện giai đoạn thiếu máu cục bộ trong cơn đau thắt ngực.
+ NURIL 5 mg - 10 mg:
Cao huyết áp nhẹ và vừa. Phụ trị trong suy tim, ở bệnh nhân không đáp ứng đầy đủ với thuốc lợi tiểu.
+ PANANGIN:
Tăng dùng các ion thiếu, mất chất điện giải. Phụ trị đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim cấp, loạn nhịp tim, cao huyết áp.
+ SECTRAL 200:
Điều trị cao huyết áp
+ TANATRIL:
Tăng huyết áp. Tăng huyết áp do nhu mô thận.
+ VEROSPIRON:
Thuốc lợi tiểu - Điều trị ngắn hạn, điều trị trước phẫu thuật trong bệnh cường aldosterone tiên phát.