Năm 1940, theophyllin được phép đưa vào sử dụng. Năm 1947, isoproterenol, một chất chủ vận beta mạnh được cấp phép sử dụng và trong 25 năm tiếp đó, hai thuốc này là những thuốc giãn phế quản chính được dùng trên lâm sàng.
Từ khi ra đời, theophyllin là thuốc giãn phế quản lý tưởng cho nhiều bệnh phổi tắc nghẽn phế quản. Do độc tính của thuốc và quá trình bệnh đã được hiểu rõ hơn, liệu pháp theophyllin dần ít được dùng trong điều trị hen.
Tác giả: TS. Minh Anh
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 20 ngày 4/2/2010
Hút thuốc lá gây nguy hiểm cho mọi người. Nếu bạn bị hen, hút thuốc tác hại còn nặng nề hơn. Khói thuốc chứa nhiều hóa chất gây kích thích phổi. Những người bị hen có hiện tượng viêm mạn tính ở đường hô hấp, nếu hút thuốc hay hít thụ động từ người hút thuốc, tình trạng viêm cũng sẽ nặng thêm lên và đưa đến cơn hen cấp. Và nên nhớ rằng người hút thuốc mặc dù không hút trong nhà nhưng khói thuốc bám vào áo quần người hút vẫn có thể làm kích phát cơn hen ở một số người nhạy cảm.
Tác giả: BS. Đồng Sĩ Tính
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 18 ngày 31/1/2010
Đây là thể nặng và dễ lây nhất trong các loại lao. Một bệnh nhân lao phổi mỗi ngày có thể ho khạc ra 1-7 tỷ trực khuẩn lao. Khi vào cơ thể, khuẩn lao khu trú và phát triển chủ yếu ở nhu mô phổi (85 -90%). Số còn lại gây hại cho các cơ quan khác như màng não, xương khớp, hạch, thận, ruột, da.
Tác giả: BS. Phạm Ngọc Quế
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 15 ngày 26/1/2010
Thuyên tắc phổi (pulmonary embolism) xuất hiện khi có một vật gây tắc nghẽn làm cản trở dòng máu chảy qua động mạch phổi. 90% trường hợp thuyên tắc phổi xuất phát từ cục máu đông hình thành ở chân hoặc tay (trong bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu). Khoảng 80% các cục máu đông này sẽ tự tan biến mà không gây tắc mạch phổi, 20% còn lại có thể di chuyển đến tĩnh mạch chậu đùi và bị vỡ, cho phép một cục máu đông di chuyển lên tĩnh mạch chủ dưới và sau cùng lên phổi. Nhưng kích thước của nó quá lớn để có thể qua được những mạch máu nhỏ ở phổi nên sẽ gây ra sự tắc nghẽn tại đó.
Tác giả: BS. Ngô Thị Thu Trang
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 11 ngày 19/1/2010
Giãn phế quản là một bệnh bẩm sinh hay mắc phải, tổn thương gây giãn thường xuyên không hồi phục của một hay nhiều phế quản lớn, có hủy hoại thành phế quản. Bệnh có thể ảnh hưởng nặng nề đến tim, phổi, gan, thận nên cần phải phát hiện và điều trị sớm mới có thể tránh các biến chứng nặng.
Tác giả: ThS. Phạm Thanh Tùng
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 209 ngày 31/12/2009
Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong cao nhất trong những bệnh nhân ung thư ở nam giới. Tỷ lệ này sẽ không tăng nữa ở nam giới, nhưng ở nữ giới thì tỉ lệ này ngày càng tăng có thể chiếm tỉ lệ tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thư ở nữ giới tại các nước công nghiệp hóa trong những năm đầu thập kỉ 90 do phong trào hút thuốc ở nữ giới gia tăng.
Tác giả: Chương trình mục tiêu quốc gia Phòng chống ung thư Ban điều hành chương trình PCUT - Viện NC PCUT - Bệnh viện K - 43 Quán Sứ, Hà Nội - ĐT: 043.9344138
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 208 ngày 29/12/2009
Dùng thêm các thuốc khác: các thuốc chống viêm giảm đau, thuốc corticoid...
Do thay đổi kỹ thuật thử, hoặc do thay máy, giấy thử khác...
Tác giả: Dự án quốc gia phòng chống bệnh đái tháo đường - BV Nội tiết TW
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 206 ngày 26/12/2009
Tạp chí Ung thư và cách phòng ngừa của Mỹ số ra tháng 12 có đăng tải nghiên cứu của các chuyên gia ở Bệnh viện Myo Chinic ở Rochester phát hiện thấy khi còn trẻ tiếp xúc nhiều với khói thuốc lá thì lúc trưởng thành và vào cuối đời dễ mắc bệnh ung thư phổi.
Tác giả: Khắc Nam (Theo RD, 12/2009)
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 204 ngày 22/12/2009
Toxoplasma là một loại ký sinh đơn bào chỉ sống trong tế bào, ký sinh ở người và một số loài chim, thú. Bệnh ở người gây các tổn thương: choán chỗ hệ thần kinh trung ương, viêm võng mạc màng mạch, viêm phổi kẽ, viêm cơ tim...
Tác giả: ThS. Đỗ Ngọc Lân
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 201 ngày 17/12/2009
Áp-xe phổi là một viêm nhiễm cấp tính gây hoại tử ở nhu mô phổi, tạo nên một hay nhiều hang chứa mủ. Bệnh do các loại vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm và nhiều tác nhân khác gây nên. Mùa đông áp-xe phổi dễ xảy ra sau các bệnh nhiễm khuẩn mũi họng và đường hô hấp trên.
Tác giả: BS. Ninh Hồng
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 197 ngày 10/12/2009
+ AVELOX:
Điều trị bệnh nhiễm khuẩn ở người lớn
+ AXEPIM:
Chỉ định điều trị các nhiễm khuẩn ở người lớn do vi khuẩn nhạy cảm với cefepime, đặc biệt là nhiễm khuẩn huyết và du khuẩn huyết, các nhiễm trùng đường hô hấp dưới, viêm phổi nặng, nhiễm trùng đường tiểu
+ CEPODEM:
Điều trị các nhiễm khuẩn sau: hô hấp trên bao gồm viêm tai giữa cấp, viêm xoang, viêm amiđan và viêm họng, viêm phổi cấp tính.
+ CIPROBAY:
Điều trị các bệnh nhiễm trùng: hô hấp, viêm phổi do phế cầu, viêm tai và viêm xoang.
+ CLAMOXYL:
Điều trị các nhiễm khuẩn hô hấp trên: Tai Mũi Họng, viêm amiđan, viêm xoang, viêm tai giữa, viêm phế quản, viêm phổi, viêm phổi phế quản, sốt thương hàn
+ DEXAMBUTOL-INH:
Hóa dự phòng: sơ nhiễm lao, suy giảm miễn dịch có thể bị bộc phát lao hay có tiếp xúc với người bị bệnh lao.
+ DOBUTREX:
Sử dụng khi cần làm tăng sức co bóp cơ tim để điều trị tình trạng giảm tưới máu do giảm cung lượng tim, tăng sức co bóp cơ tim để điều trị sự gia tăng bất thường, có nguy cơ gây sung huyết phổi hay phù phổi.
+ ENDOXAN:
Bệnh bạch cầu, ung thư hạch, buồng trứng, tinh hoàn, vú, phổi tế bào.
+ EXOMUC:
Bệnh phổi : viêm phế quản-phổi, viêm khí phế quản cấp và mãn, phòng ngừa các biến chứng hô hấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn, đa tiết phế quản, khí phế thủng.
+ FLUDITEC:
Điều trị những rối loạn của phế quản cấp tính : viêm phế quản cấp, giai đoạn cấp tính của các bệnh phổi-phế quản mạn.
+ MUCOMYST Oral:
Điều trị các rối loạn chủ yếu trong các bệnh phế quản cấp: phổi, phế quản mãn tính.
+ MUXOL:
Điều trị rối loạn bài tiết ở phế quản: viêm phế quản cấp, phế quản - phổi mãn tính.
+ Quimi-Hib Vacxin liên hợp phòng bệnh viêm phổi và viêm màng não:
Phòng bệnh chỉ định cho nhiễm khuẩn Hemophilus influenzae nhóm (viêm phổi viêm màng não mủ) cho trẻ em từ 2 tháng đến 15 tuổi .
+ ROCÉPHINE:
Điều trị nội trú các nhiễm trùng nặng như: nhiễm trùng huyết, viêm màng não, nhiễm trùng ổ bụng (viêm phúc mạc, nhiễm trùng đường mật và đường tiêu hóa), nhiễm trùng xương, khớp, da và mô mềm, nhiễm trùng vết thương. Nhiễm trùng hô hấp, nhất là viêm phổi
+ SANDIMMUN NEORAL:
Cấy ghép cơ quan nội tạng - Phòng ngừa phản ứng thải ghép trong ghép thận, gan, tim, phổi và tụy
+ VENTOLIN:
Điều trị và dự phòng hen phế quản và cũng điều trị các bệnh khác như viêm phế quản, khí thủng phổi kèm theo sự tắt nghẽn có hồi phục đường hô hấp.
+ ZINNAT:
Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới như viêm phổi và viêm phế khuẩn cấp.
+ ZITHROMAX:
Chỉ định cho các nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới: viêm phế quản và viêm phổi, da và mô mềm, viêm tai giữa và đường hô hấp trên: viêm xoang, viêm họng, amiđan.