Sốc phản vệ còn được gọi là sốc quá mẫn (anaphylactic shock), đây là một thể đặc biệt của tình trạng dị ứng thuốc. Sốc phản vệ thường xảy ra phần lớn do sau khi dùng thuốc tiêm. Nó xảy ra tức thì, thường trong hoặc ngay sau khi tiêm thuốc và là một loại tai biến nghiêm trọng nhất, có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân.
Tác giả: BS. Nguyễn Võ Hinh
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 21 ngày 6/2/2010
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh phổ biến nhất trong các bệnh tim mạch. Trước đây bệnh thường gặp ở người cao tuổi nhưng hiện nay do đời sống vật chất ngày càng được cải thiện, cộng với những căng thẳng khiến nhiều người trẻ tuổi cũng mắc bệnh. Nguyên nhân gây bệnh khá phức tạp, do nhiều yếu tố như xơ vữa động mạch, bệnh ở thận hoặc trong giai đoạn tiền mãn kinh... THA nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm cho người bệnh như tai biến mạch máu não, suy tim, suy thận... Gọi là THA khi huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) lớn hơn 140mmHg và huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu) lớn hơn 90mmHg.
Tác giả: Lương y Đình Thuấn
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 20 ngày 4/2/2010
Từ lâu ta coi virut là tai họa gây nhiều bệnh dịch cho con người, nhưng thực ra trong quá khứ chúng từng ngẫu nhiên đem lại lợi ích cho người và nếu chủ động cải biến điều ngẫu nhiên này vẫn có thể tạo được các liệu pháp chữa bệnh mới...
Tác giả: DSCKII. Bùi Văn Uy (Tổng hợp từ Science news - Healthday news)
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 19 ngày 2/2/2010
Mới đây, tôi có nghe nói đến hai loại thuốc cerebrolysin và an cung ngưu hoàng hoàn rất tốt phòng tai biến mạch máu não và đột qụy cho những người mắc bệnh về tim mạch như chúng tôi. Chúng tôi có thể dùng các thuốc này được không?
Nguyễn Văn Hòa (Hà Nội)
Tác giả: DSCKII. Nguyễn Hữu Minh
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 15 ngày 26/1/2010
Triệu chứng của tổn thương cơ xương khớp do giày cao gót
Có hai loại tổn thương cơ xương khớp do giày cao gót là các tổn thương cấp tính và tổn thương mạn tính. Tổn thương cấp tính có thể xảy ra nhanh chóng như là một tai nạn do đi giày cao gót, khi bước hụt hay bị ngã. Khi đó người đi giày cao gót có thể bị bong gân, trật khớp, giãn dây chằng hay nặng hơn là ngã gãy xương. Tổn thương mạn tính cơ xương khớp vùng chi dưới xảy ra khi đi giày cao gót trong thời gian dài. Khi đó, tổn thương thường chỉ ở mức độ nhẹ, trong đó các khớp chi dưới hay gân cơ, dây chằng phải hứng chịu các vi chấn thương kéo dài. Tuy nhiên, theo thời gian, các vi chấn thương như vậy tích lũy lại, dẫn đến xuất hiện một số bệnh lý mạn tính như thoái hóa khớp, mọc gai xương, lỏng lẻo khớp. Người đi giày cao gót thường phàn nàn về các triệu chứng như đau nhức các khớp chi dưới, sưng hai bàn chân, đi lại, đứng lên hay ngồi xuống khó khăn. Dần dần xảy ra biến dạng bàn chân.
Do bàn chân là một phần phải chịu lực thứ hai sau cổ chân, lại bị bó hẹp do mũi giày nhọn ở đầu, kết quả là ngón chân cái bị trẹo ra ngoài, còn các ngón chân khác cũng dễ bị thoái hóa sớm. Bàn chân sưng phù do máu dồn về đôi chân gây cảm giác đau đớn, khó chịu. Nếu lại có thêm một số yếu tố nguy cơ khác thì quá trình thoái hóa xương khớp ngày càng được đẩy nhanh hơn. Đó là tình trạng béo phì, hút thuốc lá, hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi phải đứng hay đi nhiều, dị dạng phát triển xương khớp hay một số bệnh khớp từ trước đó.
Tác giả: PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc (Khoa Khớp - BV Bạch Mai)
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 12 ngày 21/1/2010
Giảm sức nghe đột ngột là hiện tượng sức nghe 1 hoặc 2 bên tai mất đi nhanh chóng do tổn thương dây thần kinh thính giác - thần kinh nghe. Sự thay đổi nhanh chóng của khí hậu trong mùa đông, sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm đã làm cho số bệnh nhân nghe kém tăng lên đáng kể ở mọi quốc gia trên thế giới. Đây là một bệnh được xếp vào nhóm cấp cứu trong chuyên khoa tai mũi họng - cấp cứu về sức nghe.
Tác giả: ThS. Phạm Bích Đào
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 11 ngày 19/1/2010
Tai biến mạch máu não là một biến chứng nguy hiểm, đe dọa đến tính mạng của người bệnh đái tháo đường. Tăng đường huyết đã thúc đẩy quá trình hình thành các mảng xơ vữa nhanh hơn, nhiều hơn ở các bệnh nhân này. Việc phòng ngừa bệnh hiệu quả phụ thuộc rất lớn vào thái độ hợp tác của bệnh nhân với thầy thuốc.
Tác giả: ThS. Phan Ngọc Minh
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 9 ngày 16/1/2010
Quai bị là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính do Paramyxovirus gây nên, làm viêm tuyến nước bọt mang tai. Bệnh xuất hiện trên toàn thế giới và chỉ thấy ở người, thường phát vào mùa đông xuân, trong các tập thể như trường học, nhà trẻ...
Tác giả: BS. Trần Thanh Tâm
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 8 ngày 14/1/2010
Sau tai biến mạch máu não người bệnh thường bị di chứng liệt cơ. Khoảng 60% người bệnh bị di chứng này. Trong số đó 5% bị co cứng chi trên có hồi phục một phần chức năng. Sự co cứng này làm mất đi sự khéo léo, ảnh hưởng nhiều đến chức năng vận động cho người bệnh. Một số thuốc có thể giúp cải thiện tình trạng trên: uống thuốc giãn cơ, phong bế thần kinh cơ, mới nhất tiêm độc tố botolotoxin phong bế sự giải phóng acetylcholine.
Tác giả: DS. Bùi Văn Uy
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 204 ngày 22/12/2009
+ BRISTOPEN Injectable - Oral:
Nhiễm trùng do tụ cầu khuẩn và liên cầu khuẩn nhạy cảm với kháng sinh, chủ yếu trong các biểu hiện nhiễm trùng đường hô hấp, tai mũi họng, thận, niệu sinh dục, ngoài da, xương, nhiễm trùng máu và viêm nội tâm mạc, màng não
+ CEPODEM:
Điều trị các nhiễm khuẩn sau: hô hấp trên bao gồm viêm tai giữa cấp, viêm xoang, viêm amiđan và viêm họng, viêm phổi cấp tính.
+ CIPROBAY:
Điều trị các bệnh nhiễm trùng: hô hấp, viêm phổi do phế cầu, viêm tai và viêm xoang.
+ CIPROBAY:
Ciprofloxacin là một hoạt chất mới, ức chế men gyrase (gyrase inhibitors) của vi khuẩn.
+ CLAMOXYL:
Điều trị các nhiễm khuẩn hô hấp trên: Tai Mũi Họng, viêm amiđan, viêm xoang, viêm tai giữa, viêm phế quản, viêm phổi, viêm phổi phế quản, sốt thương hàn
+ DUXIL:
Điều trị các triệu chứng giảm sút trí tuệ bệnh lý ở người già (như không tập trung, mất trí nhớ...), rối loạn tiền đình ốc tai
+ FONZYLANE:
Điều trị các rối loạn tuần hoàn não: Suy giảm trí nhớ ở người có tuổi, xơ hóa động mạch hoặc tăng huyết áp. Rối loạn tiền đình: hoa mắt, chóng mặt, ù tai.
+ INTRAZOLINE:
Nhiễm trùng ở miệng, đường tai mũi họng, phế quản-phổi, tiết niệu-sinh dục, nhiễm trùng huyết, viêm màng trong tim, nhiễm trùng răng miệng, ngoài da, thanh mạc, xương và khớp.
+ MERISLON:
Merislon làm giãn cơ vòng tiền mao mạch vì vậy có tác dụng gia tăng tuần hoàn của tai trong.
+ MYDOCALM:
Điều trị sự tăng trương lực cơ xương một cách bệnh lý trong các rối loạn thần kinh thực thể (tổn thương bó tháp, xơ vữa nhiều chỗ, tai biến mạch não, bệnh tủy sống, viêm não tủy...).
+ OFLOCET:
Nhiễm trùng hô hấp thấp, tai mũi họng, sinh dục, tiết niệu, tuyến tiền liệt, bệnh lây qua đường sinh dục, lậu, viêm niệu đạo và cổ tử cung.
+ OPEAZITRO:
Nhiễm trùng hô hấp dưới, tai mũi họng. Nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục.
+ OPEDROXIL:
Chỉ định trong các nhiễm khuẩn sau: viêm amiđan, viêm họng, viêm phế quản, giãn phế quản, viêm phổi, áp xe phổi, viêm mủ màng phổi, viêm màng phổi, viêm xoang, viêm thanh quản, viêm tai giữa.
+ OTIPAX:
dung dịch nhỏ tai
+ PEFLACINE:
Viêm tuyến tiền liệt cấp và mãn tính, nhiễm khuẩn xương khớp, nhiễm trùng thận, tiết niệu, sinh dục, ổ bụng, gan, mật, da, màng não, tai mũi họng
+ POLYDEXA solution auriculaire:
thuốc nhỏ tai
+ ROSAMPLINE:
Nhiễm trùng đường hô hấp, tai mũi họng và miệng, thận và tiết niệu-sinh dục, phụ khoa, tiêu hóa và mật.
+ SEPTRIN:
Chỉ định cho điều trị: nhiễm trùng tiết niệu (trên và dưới), viêm tiền liệt tuyến nhiễm khuẩn. Nhiễm trùng hô hấp : viêm tai giữa ; viêm xoang ; viêm phế quản cấp, mãn, viêm phổi.
+ UNASYN:
Chỉ định sử dụng uống trong những trường hợp nhiễm khuẩn đường hô hấp trên: viêm xoang, viêm tai giữa và viêm amiđan.
+ ZITHROMAX:
Chỉ định cho các nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới: viêm phế quản và viêm phổi, da và mô mềm, viêm tai giữa và đường hô hấp trên: viêm xoang, viêm họng, amiđan.