Trẻ sinh thiếu tháng, trẻ lên cân nhanh, trẻ thấp còi, trẻ ít được phơi nắng,... đều có thể bị còi xương. Mặc dù vậy, rất nhiều bà mẹ chưa nhận biết được dấu hiệu còi xương của con. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu kinh nghiệm của một số bà mẹ và ý kiến của chuyên gia dinh dưỡng về vấn đề này.
Tác giả: Trọng Nhân (thực hiện)
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 19 ngày 2/2/2010
Sang mùa rét năm nay cẳng tay phải của tôi rất đau, cảm giác đau cả phần cơ và phần xương, nhất là khớp khuỷu tay, cầm vật gì nặng cũng hơi khó. Trời càng rét thì càng đau. Đầu gối chân phải cũng có cảm giác như vậy, tôi chỉ đi từ cơ quan về nhà khoảng 4km, là cảm thấy cứng khớp gối và rất đau nhức. Tôi chưa dùng thuốc gì, mong bác sĩ tư vấn giúp.
Nguyễn Thanh Sơn (Phú Thọ)
Tác giả: ThS. Trần Trung Dũng
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 17 ngày 30/1/2010
Đây là thể nặng và dễ lây nhất trong các loại lao. Một bệnh nhân lao phổi mỗi ngày có thể ho khạc ra 1-7 tỷ trực khuẩn lao. Khi vào cơ thể, khuẩn lao khu trú và phát triển chủ yếu ở nhu mô phổi (85 -90%). Số còn lại gây hại cho các cơ quan khác như màng não, xương khớp, hạch, thận, ruột, da.
Tác giả: BS. Phạm Ngọc Quế
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 15 ngày 26/1/2010
Trong 3 tháng mùa Đông thường gặp phong tà (gió độc) từ phương Bắc thổi tới. Hải Thượng Lãn Ông gọi là Thái cường phong hay Khảm phong. Người suy nhược mà nhiễm tà phong này sẽ phát bệnh ở tay chân, xương khớp. Để điều trị, Đông y có nhiều phương pháp như dùng thuốc sắc, thuốc hoàn, đắp, chườm, châm cứu, xoa bóp bấm huyệt và ăn uống hỗ trợ điều trị rất hiệu quả.
Tác giả: Lương y Minh Chánh
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 14 ngày 24/1/2010
Kết quả một cuộc điều tra mới đây của Trường đại học Bristol, Anh cho biết: chế độ ăn giữ eo của một số không nhỏ các em gái trong độ tuổi thanh, thiếu niên đang tiềm ẩn những nguy cơ đe dọa tới sức khỏe và hệ xương trong cơ thể.
Tác giả: Lê Huy (Theo Dailymail, 1/2010)
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 13 ngày 23/1/2010
Nhiều nghiên cứu cho thấy thận có thể bị tổn thương do các bệnh toàn thân như đái tháo đường (ĐTĐ), thoái hoá dạng tinh bột, đa u tuỷ xương, gút... Vì vậy cần phát hiện và điều trị sớm các bệnh này mới ngăn chặn được các bệnh về thận nhất là nguy cơ suy thận.
Tác giả: BS. Trần Tất Thắng
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 12 ngày 21/1/2010
Triệu chứng của tổn thương cơ xương khớp do giày cao gót
Có hai loại tổn thương cơ xương khớp do giày cao gót là các tổn thương cấp tính và tổn thương mạn tính. Tổn thương cấp tính có thể xảy ra nhanh chóng như là một tai nạn do đi giày cao gót, khi bước hụt hay bị ngã. Khi đó người đi giày cao gót có thể bị bong gân, trật khớp, giãn dây chằng hay nặng hơn là ngã gãy xương. Tổn thương mạn tính cơ xương khớp vùng chi dưới xảy ra khi đi giày cao gót trong thời gian dài. Khi đó, tổn thương thường chỉ ở mức độ nhẹ, trong đó các khớp chi dưới hay gân cơ, dây chằng phải hứng chịu các vi chấn thương kéo dài. Tuy nhiên, theo thời gian, các vi chấn thương như vậy tích lũy lại, dẫn đến xuất hiện một số bệnh lý mạn tính như thoái hóa khớp, mọc gai xương, lỏng lẻo khớp. Người đi giày cao gót thường phàn nàn về các triệu chứng như đau nhức các khớp chi dưới, sưng hai bàn chân, đi lại, đứng lên hay ngồi xuống khó khăn. Dần dần xảy ra biến dạng bàn chân.
Do bàn chân là một phần phải chịu lực thứ hai sau cổ chân, lại bị bó hẹp do mũi giày nhọn ở đầu, kết quả là ngón chân cái bị trẹo ra ngoài, còn các ngón chân khác cũng dễ bị thoái hóa sớm. Bàn chân sưng phù do máu dồn về đôi chân gây cảm giác đau đớn, khó chịu. Nếu lại có thêm một số yếu tố nguy cơ khác thì quá trình thoái hóa xương khớp ngày càng được đẩy nhanh hơn. Đó là tình trạng béo phì, hút thuốc lá, hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi phải đứng hay đi nhiều, dị dạng phát triển xương khớp hay một số bệnh khớp từ trước đó.
Tác giả: PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc (Khoa Khớp - BV Bạch Mai)
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 12 ngày 21/1/2010
Đông y quan niệm răng là phần thừa của xương và thuộc tạng thận. Mặt khác theo lý luận về kinh lạc, kinh dương minh vị đi qua vùng của chân răng nên các chứng trạng của chân răng phản ánh trạng thái hư, thực, hàn, nhiệt của vị và thận. Nói cách khác, đau răng là hiện tượng bệnh lý của tạng, phủ. Điều trị chứng đau răng bao gồm cả trị tiêu và trị bản, điều trị tại chỗ và tác động toàn thân.
Tác giả: DSCKI. Phạm Hinh
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 4 ngày 7/1/2010
oãng xương (LX) là một bệnh lão hóa của hệ thống xương của cơ thể, đặc biệt ở người cao tuổi và phụ nữ sau mãn kinh. Do vậy bất kỳ phụ nữ nào khi bước vào tuổi 55-60 cũng có thể bị LX. Tuy nhiên ở một số phụ nữ, quá trình lão hóa xương xuất hiện sớm hơn, thậm chí cả ở những người phụ nữ trẻ tuổi. LX có ý nghĩa lâm sàng quan trọng vì gãy xương do LX để lại những hậu quả nghiêm trọng đến thể chất, tinh thần cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Tác giả: PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc (Khoa khớp - BV Bạch Mai)
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 202 ngày 19/12/2009
+ AMIKACIN INJECTION MEIJI:
Nhiễm trùng đường hô hấp, đường tiết niệu, ổ bụng và nhiễm trùng phụ khoa, nhiễm trùng máu, nhiễm trùng xương và khớp, và nhiễm trùng da và cấu trúc da.
+ APO-PIROXICAM:
Apo-Piroxicam (Piroxicam) là thuốc kháng viêm không steroid có tính giảm đau và hạ sốt, được chỉ định điều trị triệu chứng viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp (bệnh khớp thoái hóa) và viêm dính đốt sống.
+ AREDIA:
Điều trị các tình trạng bệnh lý có kèm theo sự tăng hoạt động tiêu hủy xương của hủy cốt bào
+ AUGMENTIN Injection:
Điều trị ngắn hạn các nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và dưới (bao gồm cả Tai-Mũi-Họng), đường niệu dục, da và mô mềm, xương và khớp và các nhiễm khuẩn khác như sảy thai nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn sản khoa, nhiễm khuẩn ổ bụng, nhiễm khuẩn huyết, viêm phúc mạc
+ BONEFOS:
Tác dụng hóa học trên mô xương, ức chế sự tiêu hủy xương.
+ CALCIUM-SANDOZ FORTE:
Điều trị loãng xương do nhiều nguồn gốc khác nhau (mãn kinh, lớn tuổi, điều trị bằng corticoide, cắt dạ dày, hoặc bất động lâu).
+ DIPROSPAN Injection:
Chỉ định điều trị các chứng bệnh cấp và mãn tính có đáp ứng với corticoide: cơ xương và mô mềm, dị ứng, eczema, mề đay, vẩy nến.
+ INTRAZOLINE:
Nhiễm trùng ở miệng, đường tai mũi họng, phế quản-phổi, tiết niệu-sinh dục, nhiễm trùng huyết, viêm màng trong tim, nhiễm trùng răng miệng, ngoài da, thanh mạc, xương và khớp.
+ MORIAMIN FORTE:
Duy trì , bồi dưỡng sức khỏe và phục hồi sức khỏe. Bệnh quáng gà, bệnh còi xương, viêm dây thần kinh
+ MYDOCALM:
Điều trị sự tăng trương lực cơ xương một cách bệnh lý trong các rối loạn thần kinh thực thể (tổn thương bó tháp, xơ vữa nhiều chỗ, tai biến mạch não, bệnh tủy sống, viêm não tủy...).
+ NETROMYCIN:
Điều trị hiệu quả trong: nhiễm trùng máu (kể cả ở trẻ sơ sinh), hô hấp, thận, tiết niệu-sinh dục, da, mô mềm, xương khớp, bỏng, ổ bụng, tiêu hóa.
+ PEFLACINE:
Viêm tuyến tiền liệt cấp và mãn tính, nhiễm khuẩn xương khớp, nhiễm trùng thận, tiết niệu, sinh dục, ổ bụng, gan, mật, da, màng não, tai mũi họng
+ ROCALTROL:
Loãng xương sau mãn kinh, do thận. Thiểu năng tuyến cận giáp, còi xương.
+ VIARTRIL-S:
Thoái hóa xương khớp: khớp gối, háng tay, cột sống, vai, viêm quanh khớp, loãng xương, gãy xương teo khớp, viêm khớp mãn và cấp.
+ VOLTAREN:
Điều trị dài hạn các triệu chứng trong: viêm thấp khớp mạn tính, nhất là viêm đa khớp dạng thấp, viêm xương khớp và viêm cứng khớp cột sống. Điều trị ngắn hạn các cơn cấp tính của: đau thắt lưng, cơn thống phong (gút) cấp tính.